CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM - CHỨNG NHÂN ANH DŨNG - In

1. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: cảm tưởng bỡ ngỡ và thán phục

2. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: bách hại đạo như thế nào?

3. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: ý nghĩa của việc Tử Đạo

4. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: các ngài đã sống như thế nào?

5. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: Tử Đạo ngày nay

 


 

1. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: cảm tưởng bỡ ngỡ và thán phục

Tôi xin mở đầu buổi thuyết trình hôm nay về các thánh Tử Đạo Việt Nam bằng một nhận xét cá nhân đó là:

A - Dù chưa thấm nhuần Giáo Lý Công Giáo và chỉ với một Ðức Tin thô sơ các Anh Hùng Tử Ðạo Việt Nam đã đổ máu đào ra "vì Ðạo Chúa" một cách can trường có một không hai trong lịch sử nhân loại. Lời Chúa mới vừa được gieo vào đất Việt như rơi bên vệ đường hay trên đá sỏi, thế mà đã sinh hoa kết quả phong phú "hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi" (Mt 13, 1-23).

Ðời sống và cuộc xưng đạo của thánh giáo dân Phaolô Hạnh (1827-1859) là một bằng chứng cụ thể và hùng hồn cho nhận xét trên: Việc Chúa làm thật lạ lùng! Phaolô Hạnh đang là một "tay anh chị", một tên đầu đảng cướp giật khét tiếng, thế mà Chúa đã ban ơn để chỉ trong một thời gian đau đớn vì Chúa mà Phaolô Hạnh đã trở nên một chứng nhân Đức Tin kiên cường giữa thời cấm đạo tàn ác dưới triều vua Tự Đức, một ông vua khét tiếng là ghét đạo Thiên Chúa . Hạnh đã hiên ngang tiến ra pháp trường lãnh nhận triều thiên tử đạo. Những người chứng kiến cái chết anh dũng của Phaolô Hạnh đều ngỡ ngàng nói với nhau rằng: "Chàng thanh niên này chọc trời, quấy nước thế mà bây giờ lại chấp nhận đánh đập, bị kìm sắt nung đỏ kẹp thịt cháy xèo xèo như bị nướng thế mà cũng không chịu bỏ đạo. Bây giờ lại vui vẻ tiến ra pháp trường chịu chém đầu. Thật là lạ lùng, có những con người can đảm xưng đạo một cách oai hùng như thế. Đáng chúng ta cảm phục! Ngày trước chàng thanh niên Hạnh này cũng là tên đầu trộm đuôi cướp thế mà bây giờ dám can đảm đổi sự sống mình vì đạo. Anh Phalô Hạnh thật là vị anh hùng Đức Tin, xứng đáng để chúng ta noi gương mà sống tốt lành, thờ phượng Chúa."  

Thánh Hạnh đã từng qui tụ một nhóm đàn em choai choai trong vùng Gia Định, Sàigòn, Chợ Lớn, lang thang đây đó chuyên cướp giật khắp vùng. Hạnh sống ung dung, rượu chè trai gái với tiền cướp giật được do chân tay đàn em cung phụng. Khi bị tóm cổ nộp cho quan toà ở Bà Quẹo và bị tra hỏi: "Có phải anh đã liên lạc với người Pháp âm mưu làm loạn không?", thì Hạnh trả lời: "Tôi không bao giờ liên lạc hay giúp bọn người mọi rợ Âu Châu." Thế mà khi bị hỏi: "Anh có phải là người theo đạo Gia Tô không?", thì Hạnh, dù biết mình không có giữ đạo tử tế, nhưng cũng ngang nhiên công nhận: "Phải, tôi là người theo đạo Gia Tô!" Với 32 tuổi xuân thánh Hạnh đã lãnh triều tiên tử đạo bằng án bị chém đầu ngày 28 tháng 5 năm 1859!

Một "hạt giống" như Phaolô Hạnh không phải từ trời rơi xuống, nhưng do các nhà Truyền Giáo từ Âu Châu gieo rắc. Ðiển hình là Thánh Gioan Carôlô Cornay Tân, Linh mục Thừa Sai Paris (1809-1837). Lời Chúa đã tiềm tàng trong tâm hồn Ngài ngay từ lúc tuổi còn thơ: sau khi mãn trường ở bậc tiểu học, cậu xin vào học trong chủng viện Saumur và Mont Morillon rồi năm 1827 Jean Carôlô Cornay xin vào đại chủng viện Poitiers với ý định sau này sẽ trở thành linh mục Thừa Sai.

Chân phước Jean Charles Cornay đã mạnh dạn từ bỏ gia đình theo tiếng gọi truyền giáo. Một hôm trên đường đi, chuyến xe lửa chở ngài dừng lại ở một nhà ga gần quê cũ. Tức thì cha mẹ, anh chị em và bà con túa ra đón chào và hỏi thăm. Vì quá thương con, cha mẹ đã khá luống tuổi của ngài bèn nằm lăn ra trên đường đi, cố ngăn cản không cho con mình tiếp tục sứ mệnh Chúa đã giao phó. Nhưng Cornay đã can đảm quyết tâm bước qua mình cha mẹ già để sang Việt Nam giảng đạo. Khi giảng đạo ở Ðàng Trong với khí hậu và thời tiết của vùng nhiệt đới, Ngài bị đủ các chứng bệnh, như sốt rét thương hàn, nhức đầu, đau tai, nhức răng, đau mắt v.v. Nhiều người khuyên Ngài trở về Pháp quốc để chữa trị, nhưng Ngài nói: "Chúa đã sai tôi đến đây. Tôi chọn Việt Nam làm quê hương thứ hai của tôi rồi, nếu có phải chết, tôi xin chết tại đây. Tôi không đi đâu nữa." Khi bị dụ dỗ phản đạo, Cha lắc đầu chối: "Nếu quan lớn tha thì tôi về, còn việc bước qua Thánh Giá thì không bao giờ có thể xẩy ra được". Bị ép buộc quá, cha thẳng thắn trả lời: "Thưa các quan lớn, tôi chỉ chuyên lo giảng dạy đạo thật cho người ta, luôn khuyên bảo làm lành lánh dữ, dạy con cái thảo hiếu với cha mẹ, dạy dân chúng phải tùng phục vua quan, cầu nguyện cho vua quan biết thương dân trị nước. Như vậy làm sao tôi có thể làm ngược lại những điều chúng tôi khuyên dạy người dân? Không bao giờ tôi khuyên dân làm loạn. Ai báo cáo với các quan là tôi xúi dân làm loạn, đó là điều vu khống. Tôi phủ nhận hoàn toàn".

Khi hạt giống Đức Tin đã chọn cánh đồng Truyền Giáo Việt Nam "làm quê hương thứ hai rồi", thì dĩ nhiên không còn gì có thể cản ngăn đồng lúa Việt Nam trổ bông thơm ngát. Tuy nhiên lịch sử Giáo Hội bao giờ cũng được viết bằng những dòng mực đẫm máu của các Anh Hùng Tử Ðạo. Các ngài đã sống cao thượng và biết hy sinh tính mạng vì Ðức Tin, thật xứng đáng để Thánh Vịnh (125,6-7) ngợi ca:

"Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau sẽ khấp khởi mừng.
Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo
Lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng".


B - Mỗi khi đọc Hạnh Tích Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam chúng ta thấy ý thơ duyên dáng của Thánh Vịnh 125 tản mát nhưng tiềm tàng sâu đậm trong mỗi cuộc xưng đạo của từng Thánh Nhân. Trọng tâm việc tuyên xưng Ðức Tin của các Ngài không lệ thuộc vào những lý luận dài dòng hay chủ trương nhằm thắng bại trong việc tranh luận giáo lý, cũng không phải trình bày những bài giảng thần học rườm rà sâu xa, nhưng chỉ thể hiện qua ý chí sắt thép và hành động can trường không chịu "bước qua Thánh Giá". Các Ngài cam chịu mọi khổ hình cực kì dã man khủng khiếp vượt quá sức tưởng tượng của con người bình thường (như trảm quyết, lăng trì, xử giảo, chết rũ tù, voi giày, ngựa xé …), nhưng trên môi vẫn giữ nụ cười bình thản, gần như ngạo nghễ, vì muốn bắt chước Chúa Giêsu tử nạn để được hưởng "Phúc Trường Sinh".

Thử hỏi có nhà thần học hiện đại nào diễn tả Chân Lý và tinh thần Truyền Giáo một cách hùng tráng, sống động và cụ thể hơn Thánh Giám Mục Giuse Diaz Sanjurjo An (1818-1857) khi tiến ra pháp trường Bảy Mẫu? Tới nơi, Ngài xin mấy phút quì cầu nguyện tạ ơn Chúa. Ngài xin hoãn một lát rồi lớn tiếng nói đôi lời với những người hiện diện. Sau đó Ngài quay lại nói với viên chỉ huy rằng: "Tôi xin gửi quan 30 đồng tiền để xin quan một ân huệ: Xin quan đừng cho chém tôi một nhát. Nhưng tôi xin chém tôi 3 nhát: Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Chúa đã dựng nên tôi, và đưa tôi đến Việt Nam giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ đã sinh thành ra tôi. Còn nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí dù có phải chết cho đức tin, theo gương vị chủ chăn của mình. Và như thế họ đáng lãnh phần hanh phúc cùng các thánh trên Trời".

Ngoài ra, những người giáo dân đơn sơ mộc mạc sẵn sàng sống chết vì Ðạo Chúa bằng cách che chở cho các Nhà Truyền Giáo khi các Ngài bị lùng bắt. Họ đã dấu các Ngài trong nhà, trong bụi rậm, trong kho lúa, trong hang sâu và kín đáo tiếp tế lương thực nuôi các Ngài. Khi các Ngài bị bắt thì họ cũng sẵn sàng hy sinh tính mạng theo chân các Ngài ra pháp trường. Thử hỏi ngày nay có giáo dân nào hỗ trợ các linh mục trong cơn hoạn nạn một cách can đảm như Anê Lê Thị Thành, cũng gọi là Anê Đê (1781-1841)?

Năm 1841 đời vua Thiệu Trị, tại làng Phúc Nhạc khi ấy có nhiều linh mục và Thừa Sai đang trú ẩn , vì xứ Phúc Nhạc vừa lớn lại vừa đông giáo dân. Ngày 14 tháng 4 năm 1841 quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đích thân đem 500 lính về bao vây kín làng Phúc Nhạc vào đúng sáng ngày lễ Phục Sinh. Quan lệnh cho tất cả mọi người phải tập trung lại rồi cho quân lính tới lục soát từng nhà Cha Thành và cha Ngân vội trốn thoát. Cha Nhân vừa dâng lễ nhanh chân trốn lên sàn gác nhà dòng Mến Thánh Giá nhưng sơ ý để gấu áo ra ngoài kẽ ván nên bị phát giác và bị bắt, cha Lý được ông trùm Cơ đưa sang vườn nhà bà Đê ở sát bên. Bà Đê vội nói: "Xin cha ẩn dưới rãnh này, Chúa gìn giữ thì cha thoát, bằng không thì cả cha và con sẽ cùng bị bắt"

Nói xong, bà cùng người con gái tên Lucia Nụ lấy rơm và cành khô che phủ lên. Nhưng quân lính đã phát giác nên cha Lý và bà Đê là chủ nhà cùng bị bắt. Về tới Nam Định bà Thành bị giam chung cùng với hai nữ tu dòng Mến Thánh Giá. Tại đây các quan dụ dỗ bà bước lên Thánh Giá nhiều lần, nhưng bà và hai nữ tu dòng Mến Thánh Giá đã anh dũng xưng đạo một cách mạnh mẽ, thà chịu chết chứ không thể bước lên Thánh Giá Chúa.

Các quan hỏi tại sao bà cứng lòng như vậy thì bà thưa:

- "Thưa quan lớn, tôi quyết tâm tin theo Đức Chúa Trời là Đấng đã dựng nên tôi và muôn loài, tôi không thể bỏ Chúa tôi".

Hầu hết các câu đối thoại là những lời truyền khẩu, thế mà ta lại có cảm tưởng như nghe tiếng ai văng vẳng kể truyện bên tai mình. Còn gì quí hoá và đẹp đẽ hơn những lời tuyên dương Ðạo Chúa của Thánh thầy giảng Giuse Nguyễn Đình Uyển (1773-1838). Khi quan quân bắt Thầy bước qua Thánh Giá bắt Thầy với những lời đe doạ bực tức:

- "Mày không bước qua, tao sẽ chém đầu mày".

Thầy Giuse Nguyễn Đình Uyển bình tĩnh trả lời:

- "Thưa quan, nếu tôi bị chém chết, thì tôi mới hy vọng được phục sinh với Chúa Kitô".

Khi thấy Thầy quá đau đớn và kiệt sức sau nhiều lần tra tấn quan cho cai ngục đưa Thầy về nhà tù. Cai ngục mủi lòng thương, cho Thầy uống thuốc chữa trị. Sau 15 ngày, Thầy hồi lại sức. Quan lại truyền dẫn Thầy ra toà, hy vọng có thể lung lạc được lòng tin của Thầy. Quan thấy Thầy sức yếu, tướng mạo hiền hoà, mà phải đeo gông cùm nặng nề, thì thương và dùng những lời lẽ ngọt ngào khuyên Thầy:

- "Này ông Uyển hãy bước lên Thánh Giá, ta sẽ cho về với vợ con"

Thầy điềm đạm trả lời:

- "Thưa quan, tôi không có vợ con"

Quan tòa bừng bừng nổi giận quát lớn tiếng:

"Bước qua Thánh Giá để giữ lấy mạng sống. Con chó còn ham sống dù chỉ một ngày, huống chi con người".

Thầy Uyển can đảm và khiêm tốn đáp lại:

- "Thưa quan, nếu quan thương thì tôi được sống, bằng không thì tôi sẵn sàng lãnh nhận cái chết. Còn việc quá khoá và bước lên ảnh tượng để bỏ đạo thì dứt khoát không bao giờ tôi làm".

Sau ít ngày, quan Tuần Phủ lại ra lệnh đưa Thầy ra trước toà và ôn tồn khuyên Thầy bước lên Thánh Giá. Quan nói với Thầy:

- "Tôi thấy ông già yếu, lại hiền lành nên tôi muốn tha ông. Vậy ông hãy vui lòng nghe tôi bước lên Thập Tự này thì tôi sẽ tha ngay, vì lệnh nhà vua như thế".

Thầy bình tĩnh thưa lại:

- "Thưa quan, đã nhiều lần tôi đã nói, nếu quan tha thì tôi đội ơn, còn việc bước lên Thánh Giá thì dứt khoát không thể nào tôi nghe theo quan. Nếu phải chết thì tôi sẵn lòng chịu chết".

Nghe Thầy nói, quan tỏ lòng cảm phục ý chí sắt đá của Thầy. nhưng vì tự ái quan lại nói:

- "Bề ngoài ông như sắp chết, thế mà trong lòng vẫn cương quyết, không sợ chết. Thật lạ lùng!".

Quan nổi giận vì lòng trung tín anh hùng đó, liền truyền quân lính thay gông nặng xiết vào cổ Ngài mà quay nhiều vòng. Bị máu chảy nhiều và quá đau đớn, Ngài đã trút hơi thở cuối cùng trong ngục, với niềm hân hoan đón nhận triều thiên tử đạo sáng ngày 4 tháng 7 năm 1838. Hưởng thọ 63 tuổi.

Tôi cố ý nêu lên những ví dụ như trên, để một là chứng minh cho những điều mình nói, hai là để cho các bạn thưởng thức được những nét độc đáo của 118 Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam.

2. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: bách hại đạo như thế nào?

Theo sử liệu, hạt giống đức tin đã được gieo rắc trên quê hương đất nước chúng ta với sự hiện diện của một thừa sai là giáo sĩ Inikhu vào năm 1533. Công cuộc truyền giáo mới ở trong giai đoạn khởi đầu mà đã bị thử thách nặng nề với cái chết vì đạo của chân phước Anrê Phú yên vào năm 1644. Từ đây Giáo hội Việt nam phải trải qua nhiều thời kỳ chịu bách hại, có lúc đẫm máu, qua các thời đại các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, đặc biệt với nhóm Văn Thân.

Nhà cầm quyền thời đó đã dùng mọi hình phạt dã man để khủng bố tinh thần các thánh Tử đạo Việt nam, nhưng các Ngài đã anh dũng chịu đựng vì Chúa. Không có hình phạt nào có thể tách rời các Ngài ra khỏi tình yêu của Chúa.

* Chúng ta hãy xem một số hình phạt man rợ:

a- Bá đao : bị lý hình dùng dao cắt xẻo từng miếng thịt trên thân thể cho dù 100 miếng. Cách chết này có một vị.
b- Lăng trì : chặt chân chặt tay trước khi bị chém đầu. Cách chết này có 4 vị.
c- Thiêu sinh : bị thiêu sống. Chết cách này có 6 vị.
d- Xử trảm : bị chém đầu. Chết cách này có 75 vị.
e- Xử giảo : bị tròng dây vào cổ và bị lý hình kéo hai đầu dây cho đến chết. Cách chết này có 22 vị.
f- Chết rũ tù : bị tra tấn, hành hạ đủ cách đủ kiểu, rồi bị bỏ đói cho tới khi kiệt sức và chết gục trong tù. Chết cách này có 9 vị.

* Kế họach PHÂN SÁP của vua Tự Đức, một kế họach quá sâu độc địa!

Nhưng cũng để cho chúng ta biết rằng trong mọi biến cố lúc nào cũng có bàn tay quan phòng của Chúa, sự khôn ngoan của loài người chỉ là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa.

Kế hoạch Phân Sáp được Vua Tự Đức cho thi hành vào năm 1851 và 1856.
Do sự thi hành kế hoạch Phân Sáp này mà gần 400.000 giáo dân phải bị đi phân sáp, trong đó có từ 50.000 đến 60.000 giáo dân phải chết nơi phân sáp, 100 làng công giáo bị tàn phá bình địa, 2000 họ đạo bị tịch thu tài sản ruộng đất, 115 Linh mục Việt nam và 10 giáo sĩ ngọai quốc bị giết, 80 Dòng Mến Thánh Giá bị phá tan, 2000 nữ tu Mến Thánh giá phải tan tác, 100 nữ tu Mến Thánh giá chết vì Đạo. Kế họach phân sáp gồm bốn mặt :

a - Mặt thứ nhất, không cho người công giáo ở trong làng công giáo của mình, nhưng phải đến ở trong các làng bên lương.

b - Mặt thứ hai, mỗi người công giáo phải bị năm người lương canh giữ cẩn mật.

c - Mặt thứ ba, các làng công giáo bị phá hủy, của cải ruộng đất của người công giáo bị tịch thu và giao vào tay những người bên lương, những người này sử dụng và nộp thuế lại cho Nhà Nước.

d - Mặt thứ bốn, không cho người đàn ông công giáo ở một nơi với người đàn bà công giáo, không cho vợ chồng công giáo ở với nhau, mỗi người phải đi ở một nơi xa nhau, con cái của người công giáo thì phải để cho gia đình người lương nuôi.

Đây là một kế họach rất sâu độc, nhằm tiêu diệt Giáo hội Việt nam tận gốc rễ. Nhưng bàn tay Chúa dẫn đưa lạ lùng : các triều đại nhà Nguyễn không còn nữa, mà Giáo hội Việt nam, hiện nay, vẫn mạnh và vươn lên.

Có nhiều lý do đẫn đến cảnh bách hại : vì ghen tương đố kỵ, hiểu lầm hay do những nguyên nhân chính trị. Trong vòng 300 năm, Hội thánh Việt nam đã dâng cho Chúa một số chứng nhân anh dũng, đã nhận lấy cái chết để làm chứng và tỏ lòng trung thành với Chúa Kitô. Con số thực sự của các tử đạo tại Việt nam cũng không có được thống kê chính xác, chỉ biết rằng con số này rất đông, từ 100.000 đến 130.000 người. Các tử đạo tại Việt nam cũng rất đa dạng, gồm đủ mọi thành phần trong dân Chúa và ngành nghề xã hội : các Giám mục, Linh mục, Linh mục thừa sai Pháp và Tây ban nha, bên cạnh các Linh mục là chủng sinh, thầy giảng và giáo dân, có những cụ già và thanh niên, binh lính, thầy thuốc, quan chức....

Giáo hội tuy còn non nớt, còn đang trên đà truyền giáo, nhưng ngày 19.06.1988 Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong lên bậc hiển thánh 117 chứng nhân anh dũng và đưa vào niên lịch chung để mừng kính trong toàn thể Giáo hội vào ngày 24 tháng 11 hằng năm là ngày kỷ niệm thành lập hàng giáo phẩm tại Việt nam vào năm 1960.

3. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: ý nghĩa của việc Tử Đạo

Trong việc Tử Đạo bao giờ cũng có một yếu tố quyết định không thể thiếu được: đó là VÂNG LỜI, tuân theo mệnh lệnh của người trên. Theo sau đó là lòng CAN ĐẢM đến nỗi có thể hy sinh mạng sống một các mù quáng.

Để làm chứng cho điều đó, mời các bạn nghe câu truyện sau đây: Chết theo lệnh vua.

Trên bước đường viễn chinh, đại đế Alexandre đã cho quân vây hãm kinh đô của một vương quốc vùng Tiểu Á. Thay vì cho quân tấn công hạ thành, đại đế Alexandre đã thúc ngựa đến ngay trước cổng thành và đòi gặp mặt vua đối phương. Nhà vua leo lên lũy thành, nhìn xuống đòan quân đang vây hãm và hỏi Alexandre :

- Nhà ngươi muốn gì ?
- Ta muốn nhà vua đầu hàng.
- Đầu hàng ? Tường ta cao, hào ta sâu, quân ta đông hơn, tại sao ta lại phải đầu hàng nhà ngươi ?
- Nhà ngươi hãy xem cho rõ.

Thế rồi Alexandre ra lệnh binh sĩ dàn trận. Thay vì tấn công hạ thành, ông ra lệnh cho họ tiến bước về hướng vực thẳm ngòai thành. Tò mò, quân sĩ trong thành cũng leo cả lên tường thành để xem cuộc "diễn binh" của Alexandre. Đòan quân của Alexandre cứ từ từ tiến bước đến bờ vực thẳm. Hiên ngang, anh dũng, họ tiến tới bờ vực thẳm. Một người bước vào khoảng không, rơi xuống vực thẳm, thịt nát xương tan. Người thứ hai vẫn can đảm tiếp bước, rơi xuống vực sâu, chết theo. Từng người, từng người theo nhau đi vào cái chết một cách bình thản, anh hùng. Sau cái chết anh hùng của binh sĩ thứ mười, Alexandre hạ lệnh dừng bước.

Sững sờ kinh ngạc trước tinh thần của binh sĩ Alexandre, lòng trung tín họ dành cho Alexandre, biết coi nhẹ cái chết tựa lông hồng, nhà vua và tòan quân trong thành mở cửa qui hàng.

Chúng ta cũng đang thừa hưởng chiến công của những người lính anh hùng như thế của Đức Kitô, Vua vũ trụ. Chính các thánh Tử đạo Việt nam đã góp phần xây dựng Giáo hội Việt nam bằng lòng trung tín các Ngài đã dành cho Chúa Kitô, bằng gương anh dũng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Chúng ta nghĩ thế nào về những cái chết anh hùng của cha ông chúng ta đã dâng hiến mạng sống mình cho Chúa ? Và chúng ta sẽ phải sống thế nào để theo gương các ngài?

Xưa nay có lẽ chúng ta đã quen đi với cách thức phân biệt các thánh tử đạo với các thánh giáo phụ, hiển tu, đồng trinh vv... Nhưng chúng ta quên rằng thánh nào cũng là thánh, và thánh nhân Kitô giáo nào cũng trước tiên phải là chứng nhân của Tin mừng, hay nói cách khác, chứng nhân của Chúa Kitô, chỉ khác nhau cách thức làm chứng mà thôi.

Vậy thì vị tử đạo, trước tiên phải là chứng nhân của Chúa Kitô, như mọi chứng nhân khác, trên bình diện đời sống. Cái chết "vì đạo" của người tử đạo chỉ là một cách thức làm chứng mà thôi, chứ không phải làm thay đổi bản chất người chứng của Chúa Kitô. Và sau đây là một cách làm chứng đơn sơ mà hùng hồn của một thanh niên Việt Nam: Xin mua được một linh hồn.

Thế kỷ 19, khi cơn cấm đạo nổi mạnh trên tỉnh Thanh hoá, một hôm, người ta dẫn đến trước mặt quan án một thiếu niên 17 tuổi – tên là MỚI – Thấy mặt mũi khôi ngô tuấn tú, quan động lòng thương.

- MỚI - quan nói – con cứ đạp thánh giá đi, rồi ta sẽ ban thưởng một nén bạc.
- Bẩm quan lớn, một nén bạc chưa là gì.
- Được, ta sẽ ban một nén vàng. Con hãy đạp Thánh giá đi.
- Ồ, bẩm quan lớn, một nén vàng cũng vẫn còn ít quá.
- Sao ? quan sửng sốt, quát : Thế còn chưa đủ ư ? Vậy mày muốn bao nhiêu ?
- Bẩm, nếu quan lớn muốn tôi đạp Thánh giá, thì xin quan lớn hãy cho tôi cái gì có thể mua được một linh hồn khác đã...

Và người thiếu niên bình tĩnh bước vào pháp trường, vẻ anh dũng tươi cười.

Kinh nghiệm cho biết Giáo hội của Chúa bao giờ cũng được khai sinh và phát triển bằng đau khổ và tử đạo. Thật vậy, chính Chúa Kitô là vị tử đạo đầu tiên, đã khai sinh Giáo hội bằng cái chết đau thương trên thập giá. Chúa phán : "Khi nào Ta bị treo lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi sự về với Ta"(Ga 12,22). Từ ngày đó, Giáo hội nhiệm thể Chúa Kitô cũng phải đổ máu làm chứng về Chúa để mọi người được ơn cứu chuộc. Giáo hội sở khai với cuộc tử đạo của thánh Stêphanô. Giáo hội Rôma với bao thánh tử đạo dưới thời hoàng đế Néron nay vẫn còn di tích lưu truyền.

Hoàng đế Julius, người ngược đãi Kitô giáo vào thế kỷ thứ 4, đã phải thốt lên : "Các ngươi đắp xác của nhiều người mới chết lên một cái xác đã chết (Chúa Giêsu), các ngươi làm đầy thế giới này bằng quan tài và mồ mả".

Cuối cùng, nhiều Giáo hội đã được dựng nên trên mồ của các thánh Tử đạo, đền thờ thánh Phêrô ở Vatican là một thí dụ, và các nghĩa địa đã biến thành các thành phố bởi vì "Máu các thánh tử đạo là hạt giống sinh ra các tín hữu" (Tertullianô).

Tại sao người ta dám tử đạo, dám làm chứng cho Tin mừng, dám làm chứng cho Chúa ? Thưa vì người ta qúi sự sống đời đời. Người ta cho phần rỗi linh hồn là quí hoá và không gì có thể đổi lấy được vì : "Được lợi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích lợi gì" (Mc 8,36).

4. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: các ngài đã sống như thế nào?

Giai đoạn lịch sử thời 117 thánh Tử Đạo Việt Nam kéo dài đúng 117 năm, tính từ hai vị tử đạo tiên khởi 1745 (thánh Phanxicô Federich Tế và Matthêu Liciniana Đậu) đến vị cuối cùng 1862 (thánh Phêrô Đa), qua các triều đại vua Lê - chúa Trịnh, Tây Sơn và triều Nguyễn (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức).

Để trả lời câu hỏi : các thánh tử đạo đã sống thế nào ? Chúng ta có thể chú ý đặc biệt đến các vấn đề sau :

1. Thân ái với mọi người

Người Việt Nam thường nói : "Phép vua thua lệ làng". Mặc cho triều đình nhà Nguyễn ra những chiếu chỉ bách hại, dấu hiệu tình thân giữa bà con chòm xóm đối với người Công giáo là sự kiện quá rõ rệt. Thí dụ trong vụ án linh mục Gioan Đạt, viên cai ngục nói : "Tôi thấy cụ khôn ngoan, đạo đức, thì muốn kết nghĩa huynh đệ lắm, ngặt vì cụ sắp bị án tử rồi. Tôi xin hứa biếu cụ một cổ quan tài để biểu lộ lòng tôi quí cụ."
Chuyện hai linh mục ThiDũng Lạc, quan huyện Bình Lục nói : "Các ông là quan bên đạo, tôi quan bên đời", rồi cho lệnh cởi trói và cho dọn cơm bằng mâm bát của mình. Đến khi cho áp giải hai vị về Thăng Long, quan lập đàn tế lạy trời phật để thanh minh mình vô can trong vụ án.

Đặc biệt chuyện linh mục Vũ Bá Loan, niên trưởng 84 tuổi, được mọi người kính trọng gọi bằng "cụ", ngài không bị đòn đánh, và trong ngày xử, mười lý hình bỏ đạo chạy trốn, đến người thứ mười một, đã lịch sự xin phép : "Việc vua truyền cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho. Cháu sẽ cố giúp cụ chết êm ái. Khi về trời cụ nhớ đến cháu nhé".

Nhờ đâu ông câu Lê Văn Phụng, mỗi lần quan huyện đi truy lùng lại cho người đến báo trước ? Nhờ đâu linh mục Lê Bảo Tịnh được quan tổng trấn cho giấy phép mở chủng viện ? Nhờ đâu Giáo hội miền nam suốt thời Minh Mạng không có ai trong số 117 vị tử đạo ? Rồi nhờ đâu khu vực dòng Đa Minh bình an đến năm 1838, và hầu như an bình từ năm 1841-1856 ? Nhờ đâu những giám mục như Hermosilla Vọng, từng được nêu đích danh trong chiếu chỉ nhà vua, vẫn được an toàn hơn 20 năm : Thưa, nhờ những quan chức địa phương không đánh giá đạo Công giáo như nhà vua và nhờ những căn nhà "lương dân" luôn mở rộng cách hào hiệp.

Chính trong bối cảnh thân ái của đại quần chúng bình dân Việt Nam, các tín hữu đầu thế kỷ XIX có nhiều cơ may thể hiện sự gắn bó, tinh thần phục vụ và lòng bác ái của Tin Mừng. Những cuộc truy lùng thường xuyên của triều đình đã giúp các nhà thừa sai sống sát với tinh thần nghèo khó của người tông đồ và gần gũi với dân lao động trong các làng quê, sau lũy tre xanh. Đến Việt Nam, các vị liền lo việc học tiếng và phong tục. Rồi sau đó cũng ăn nước mắm, ăn tương, ăn cà, cũng nón lá, áo bà ba, áo khẩu... sống với dân Việt, sống như dân Việt, có vị suốt 15 năm không đụng đến một miếng thịt. Thế nhưng các vị vẫn vui tươi. Thừa sai Gagelin Kính gửi thư về nhà : "Những thiếu thốn, những cực nhọc đủ thứ đến với chúng tôi, nhưng tôi dám khẳng định rằng : tôi được hạnh phúc trong túp lều tranh của tôi hơn vua nước Pháp trong hoàng cung của ngài".

Đại đa số giới Công giáo thuộc thành phần nào ?

Thưa, là những người nông dân tầm thường nhất, mỗi ngày lam lũ lao động để làm xanh giải đất quê hương. Linh mục Khuông từng tuyên bố : "Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng".

2. Tôn trọng vua quan và hết lòng vì quê hương

Hội nhập vào nền văn hóa Á Đông theo chế độ xã hội gia trưởng, Giáo hội Việt Nam đã có nét suy tư sáng tạo đặc biệt. Ngay từ thời linh mục Đắc Lộ, tín hữu Việt Nam đã coi nhà cầm quyền như một người cha, mọi người đều là con trong đại gia đình dân tộc. Linh mục Tự đối đáp với quan tòa : "Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được".

Dĩ nhiên trong bối cảnh lịch sử "thượng tôn Tống Nho" của nhà Nguyễn, thì việc đề cao chữ hiếu hơn chữ trung đủ làm cho triều đình thêm khó chịu. Vì khi đề cao hiếu hơn trung, người Công giáo tuân lệnh vua một cách có suy nghĩ, có lựa chọn, tuân giữ luật lệ hợp lý, nhưng bạo dạn phản đối điều nghịch lý trái với lương tâm mình. Dầu sao giới Công giáo không tổ chức nổi loạn, bạo động. Giám mục Alonso Phê trong thư chung năm 1798 xác định khí giới đánh giặc bách hại "chẳng phải là súng ống gươm giáo đâu, mà là đức tin, lời cầu nguyện và đức bác ái" .

Đức cha Xuyên ra vạ tuyệt thông cho ai tổ chức bạo động và buộc những ai vu cáo ngài cổ động nổi dậy phải cải chính công khai. Giám mục Hemosilla Liêm nhắc nhở các tín hữu phải tuân giữ luật nhà phép nước, còn nếu bị vu cáo tội chính trị thì cứ an tâm, vì đức Giêsu xưa từng bị dân Do Thái lấy cớ chính trị để giết (Ga 19,12). Ngài nói tiếp : "....Phô con đừng hòa tập vuối giặc, đừng nghe chúng nói dối dá đấng ấy đấng khác sai chúng nó, vì cái ấy là không hẳn".

Là dân trong nước, các tín hữu sẵn sàng thi hành nghĩa vụ công dân, từ thuế khóa cho đến gia nhập quân ngũ. Năm 1838, nguyên tại tỉnh Nam Định, quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã tụ tập được 500 binh sĩ Công giáo, để rồi bắt đạp lên Thánh Giá. Trong quan trường, chiếu chỉ tháng 9-1855 ra lệnh sàng lọc các quan Công giáo, cấm đạo đồ đi thi hay nhận chức vụ trong làng trong tổng. Thế mà sáu năm sau (1861), trong một đợt thanh trừng, triều đình còn bắt được 32 viên quan, ba người chối đạo, 18 bị giết, 11 bị án lưu đày.

Các thừa sai Pháp sẵn sàng làm nhân viên thông dịch cho nhà vua. Chính Minh Mạng định phong các ngài làm quan chức trong triều đình. Linh mục Gagelin Kính đại diện anh em từ chối đặc ân đó : "Tuy nhiên, những việc đó nào có thể dung hòa với nhiệm vụ linh mục của tôi, tôi sẵn sàng giúp đỡ nhà vua". Thừa sai Jaccard Phan liên tục giúp vua 10 năm, dù bị lãnh ba án tử hình: lần đầu vua giảm thành án xung quân để dịch sách, lần hai đổi thành án lưu đày chung với thừa sai Odorico Phương Ofm, vị này chết nơi rừng thiêng nước độc, còn ngài vẫn sống sót và tiếp tục dạy sinh ngữ và dịch sách cho hoàng triều. Lần cuối cùng cha tử đạo vào ngày 21-9-1838. Trước đó, nhiều người khuyên ngài bỏ trốn, ngài nói : "Không bao giờ, tôi muốn chứng tỏ phải dùng điều thiện để thắng điều ác".

Cuốn giáo lý đầu tiên cho người Công giáo Việt Nam, cuốn "Phép giảng tám ngày" (1651) của cha Đắc Lộ đã khẳng định các tín hữu theo đạo Thiên Chúa, đạo của mọi quốc gia chứ không phải đạo Phú Lãng Sa. Đến thời Lê Cảnh Hưng (1740-86), trong cuộc tranh luận bốn tôn giáo, được ghi lại trong cuốn "Hội đồng tứ giáo", hai linh mục GiaLiêm đã trả lời vấn nạn "Đạo Hoa Lang là đạo ngoại quốc" rằng :"Chớ thì đạo Phật chẳng từ Ấn Độ, đạo Nho từ nước Lỗ, đạo Lão chẳng từ đời nhà Châu ở Trung Hoa sao ?" và đã khẳng định : "Chẳng có đạo nào là đạo Hoa Lang, đạo chúng tôi là đạo Thiên Chúa, chúng tôi ước ao thiên hạ mọi nước đều biết". Linh mục Vũ Bá Loan trình bày điều đó với quan : "Tôi chẳng theo đạo của nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa Trời Đất, Chúa của muôn dân thôi".

Cũng vì vậy, khi quân đội Pháp tiến vào Đà Nẵng năm 1858, giới Công giáo không hề làm nội ứng như thừa sai Pelerin tưởng. Ngược lại, họ tình nguyện đi bảo vệ non sông. Có điều, vua Tự Đức đòi họ muốn tham chiến phải bỏ đạo trước đã. Tháng 7-1857, có 14 binh sĩ, một bỏ đạo, 13 bị lưu đày. Tháng 4-1858, trong nhóm 20 binh sĩ, bốn bỏ đạo, 16 bị lưu đày. Và khi tàu Pháp đến, 193 binh sĩ Công giáo chuẩn bị lên đường xuống Đà Nẵng, vì không chối đạo đã lãnh án chung thân.

Một vị tử đạo thời này là binh sĩ Trần Văn Trung, đã bị giết vì khẳng khái tuyên bố : "Tôi là Kitô hữu tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ".

3. Mặn nồng tình nghĩa gia đình

Một trong những đóng góp của giới Công giáo vào cơ chế Pháp lý gia đình Việt Nam, là luật lệ một vợ một chồng. Trong giai đoạn văn hóa quá ảnh hưởng quan điểm Nho giáo "trai năm thê bảy thiếp", các tín hữu đã góp phần đề cao đạo đức thủy chung của dân tộc trong truyện trầu cau. Dĩ nhiên không phải mọi tín hữu đều trung thành với lời cam kết hôn nhân, như ông Gẫm, binh sĩ Huy, Cai Thìn, quan Hồ Đình Hy ... đã có thời gian sa ngã, thế nhưng tất cả đều biết trở về để vun đắp lại mái ấm gia đình của mình.

Trong danh sách 117, trừ một số theo đạo khi đã trưởng thành, còn những ai sinh ra trong gia đình Công giáo đều được rửa tội và giáo dục đức tin ngay từ bé. Thày Đa Minh Úy từng mạnh dạn tuyên bố, giữ vững niềm tin là giữ đạo cha ông : "Nếu tôi cả gan bước lên thánh giá, thì tôi xúc phạm đến Chúa và bất hiếu với mẹ cha. Vì song thân sinh ra tôi đã dạy tôi trung thành với niềm tin cho đến chết". Nói chung các vị tử đạo khi bị bắt không thoát khỏi tình cảm quyến luyến với người thân, có điều các vị chọn lựa Thiên Chúa và tin tưởng phó thác người thân cho Ngài. Nhiều vị đang bị giam được về thăm gia đình, đã bình tĩnh khuyên vợ con vui vẻ cho mình được chịu tử đạo, rồi tự động trở vào tù như các ông Dũng, Thuần, Ngôn, Năm Thuông. Ta có thể thấy điều đó trong vài di ngôn cuối cùng sau

(1). Ông Thọ căn dặn các con vào thăm trong tù : "Các con thân mến, cha không còn làm gì giúp các con ở thế gian này được nữa, cha chỉ còn lo chuẩn bị tâm hồn đón nhận những thử thách cuối cùng. Ý Chúa đã muốn cha xa lìa các con mãi mãi, nhưng các con còn có mẹ, hãy cố gắng vâng lời mẹ. Các con lớn hãy nhớ quan tâm săn sóc em mình. Các con nhỏ phải biết kính trọng vâng lời anh chị. Hãy thương yêu nhau, siêng năng làm việc đỡ đần mẹ. Hãy nhớ đọc kinh tối sáng và lần chuỗi Mân Côi hằng ngày. Chúa trao cho mỗi người một thánh giá riêng, hãy vui vẻ vác theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo".

(2). Y sĩ Phan Đắc Hòa thì nói : "Cha yêu thương các con và hằng chăm sóc các con, nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn, các con hãy vui lòng vâng ý Chúa đừng buồn làm chi. Các con ở với mẹ, yêu thương nhau và săn sóc việc nhà....".

(3). Nói đến tình nghĩa gia đình, chúng ta khó có thể quên một số hình ảnh như : linh mục Triệu vì thương mẹ già ở lại Huế ba tháng dựng nhà cho mẹ, nên mới bị bắt. Ông đội Trung có con gái được phép ở trong tù chăm sóc, nhưng ông bắt con về để kịp học giáo lý với bạn bè trong xứ. Ông Trùm Phụng tại pháp trường gặp lại con gái, cô Anna Nhiên, đã đeo cho con ảnh thánh giá ở cổ mình và nói : "Con hãy nhận lấy kỷ vật của Ba. Đây là ảnh đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, ảnh này quí hơn vàng bạc bội phần. Con hãy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sớm chiều con nhé !". Nếu nói đến gia đình tử đạo phải kể : anh em có Anrê Tường - Vinhsơn Tương ; cha con có Án Khảm - Cai Thìn ; con rể bố vợ có Lý Mỹ - Trùm Đích.

(4). Ông Lý Mỹ vì thấy nhạc phụ là ông trùm Đích đã cao niên, mỗi cuộc tra tấn đều tự nguyện chịu đòn hai lần thay thế cho cha. Con gái ông Lý 12 tuổi, trốn mẹ vào tù thăm và thưa: "Xin cha can đảm chịu chết vì Chúa". Cậu Tường 9 tuổi, con trai ông không đi được, cũng nhắn lời : "Cha đừng lo cho chúng con, cha cứ an tâm vững lòng xưng đạo và chịu chết vì đạo". Vợ ông, bà Mỹ nói trong tiếng nghẹn ngào : "Vợ con ai mà chẳng thương tiếc nhưng ông hãy hy sinh vác thánh giá rất nặng vì Chúa. Hãy trung thánh đến cùng, đừng lo nghĩ đến mẹ con tôi. Thiên Chúa sẽ quan phòng tất cả".

Như thế, ta thấy những thân nhân của các vị tử đạo, tuy vẫn tiếc thương, vẫn buồn khóc, nhưng cũng can đảm vì tin tưởng yểm trợ tinh thần cho các chứng nhân. Chúng ta quan tâm đặc biệt đến hình ảnh một số bà mẹ.

(5). Bà mẹ của Jaccard Phan, khi nghe tin con chịu chết vì đức tin đã reo lên : "Thật là tin vui, gia đình ta có một vị tử đạo". Bà nói tiếp : "Xin chúc tụng Chúa, tôi sẽ buồn biết bao, nếu con tôi chịu khuất phục trước gian khổ và cực hình".

(6). Bà mẹ Castañeda Gia, khi em trai vị linh mục đang tìm cách báo tin sao cho khéo để mẹ bớt buồn. Bà hỏi : "Tại sao Jacinto của mẹ lại chết ? Anh ấy chết bệnh hay bị giết?". Cậu Clêmentê hỏi lại : "Vậy mẹ muốn anh ấy chết cách nào?". Bà đáp : "Mẹ mong rằng Jacinto chết vì đức tin". Clêmentê liền nói "Thưa mẹ vâng, chính vì đức tin mà anh ấy bị giết". Ngay chiều hôm đó, bà liền đến nhà thờ dòng Đa Minh để cùng với các tu sĩ hát lên lời kinh Tạ Ơn TE DEUM.

(7). Bà Maria Nhiệm, thân mẫu thánh Gẫm, năm 1870, tức là 23 năm sau cuộc tử đạo của con trai, đã đến làm chứng tại tòa án phong Chân Phước. Bà nói : "Khi nghe tin con bị giết, vợ chồng tôi không thảm thiết gì hết, chỉ nói : chết như vậy đặng làm thánh".

(8).  Nhưng hình ảnh nổi bật nhất là bà mẹ binh sĩ Anrê Trông, được đức Lêô XIII trong sắc phong chân phước năm 1900 ca tụng về lòng can trường, đã theo gương "Nữ vương các thánh Tử Đạo". Bà có mặt trong cuộc hành quyết để dâng hiến người con trai duy nhất. Bà đi cạnh con, không than khóc, không sầu buồn, lại bình tĩnh khuyên con bền chí. Và khi đầu vị tử đạo rơi xuống, bà mạnh dạn tiến vào pháp trường và nói với quan : "Đây là con tôi, xin các ông trả lại cái đầu nó cho tôi". Rồi bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp của người con yêu quí, đem về an táng ngay trong nhà.

(9). Linh mục Hạnh thay vì dày đạp, đã hôn kính ảnh Đức Mẹ dù bị đánh đúng 100 roi. Bà Lê Thị Thành tâm sự : "Nhờ ơn Đức Mẹ giúp sức, tôi không thấy đau đớn". Ngoài ra linh mục Schoeffler Đông trong thư, tỏ ra mừng rỡ khi biết tin mình tử đạo ngày 01-5, ngày đầu tháng hoa kính Đức Maria. Linh mục Hoan luôn đeo trên cổ áo Đức Bà cho đến giờ xử tử, ngài nói : "Ảnh này tôi không thể cho ai được. Đây là hình ảnh Đức Nữ Vương và là Bà Chúa của tôi". Linh mục Cornay Tân khi bị giam trong cũi, vẫn cất tiếng hát, lính nghe hay nên báo với quan, thế là quan bắt hát mới cho ăn, ngài kể lại trong thư rằng: "Mỗi bữa ăn tôi lại có dịp hát thánh ca chúc tụng Đức Maria".

(10). Bởi vì thực ra trong thâm tâm của các vị, cuộc tử đạo quả là một hiến tế cần nhờ Mẹ MARIA (tượng trưng cho Tình Mẫu Tử trong gia đình) làm trung gian để dâng lên Thiên Chúa, như Linh mục Théophane Vénard Ven đã ghi lại lời nguyện trong thư gửi Đức cha Theurel :

"Lạy Mẹ Vô Nhiễm, khi đầu con rơi xuống dưới lưỡi gươm của lý hình, xin nhận lấy tôi tớ nhỏ bé như trái nho chín được hái, như bông hồng nở rộ được ngắt về dâng kính trên bàn thờ. Ave-Maria ".

Thánh Vénard VEN là một linh mục trẻ, mới 31 tuổi, ăn nói rất lịch thiệp và " đẹp trai " nữa. Sáng ngày 2 tháng 2 năm 1861, ngài đã ăn mặc chỉnh tề, áo quần tươm tất, lịch sự như ngày đại lễ. Các quan chức đều khâm phục ngài nhưng phải tuân lệnh vua. Chính ngài đã từ giã các quan và nói : " Trong tương lai chúng ta sẽ gặp nhau trước toà thẩm phán của Thiên Chúa. " Một vị quan nói : " Xin ông đừng về báo oán chúng tôi nhé ". Cha đáp lại : " Tôi không báo oán nhưng sẽ cầu nguyện cho các ông ! " Tới nơi xử là pháp trường Cầu Giấy, Hà Nội, anh lý hình tên Túc dụ dỗ Cha cho tiền để anh chỉ chém một nhát cho mau và đỡ đau, nhưng Cha lại nói : " Càng lâu càng tốt ". Túc bực mình, khi chiêng trống nỗi lên ra hiệu, có ý chém cha hai nhát bể cổ vai. Hai nhát sau vào cổ nhưng không đứt, anh lấy gươm khác chém thêm một nhát nữa đầu cha mới rụng xuống đất, rồi anh cầm trên tay giơ cao, tung lên để các quan biết là cuộc hành quyết đã xong ! Thi hài cha được chôn cất ngay tại pháp trường, còn đầu của cha bị quăng xuống sông Hồng, mãi tới ngày 15 tháng 2 (gần 2 tuần sau khi bị chém) ngư phủ mới tìm thấy vẫn còn tươi tốt.

5. Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam: Tử Đạo ngày nay

Trong hiến chế Lumen Gentium, công đồng chỉ dùng chữ Tử đạo 6 lần và theo một ý nghĩa riêng biệt, với chiều kích rộng lớn phổ quát, tuy vẫn qui chiếu vào ý niệm tử đạo có từ trước. Theo công đồng, tử đạo là được đồng hoá với Thầy mình, sẵn sàng chết để cứu độ trần gian, và cũng như Thầy, đổ máu đào ra để làm chứng cho việc đó. Hội thánh coi tử đạo là ơn cao cả, là bằng chứng tột đỉnh về đức tin. Chẳng mấy ai được phúc này, nhưng ai ai cũng phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô trước mặt thế gian, và theo Người trên con đuờng thập giá, giữa những cơn bắt bớ thường xẩy ra cho Hội thánh (LG. số 42).

Nếu như các nhà thần học nói : "Hội thánh luôn ở trong tình trạng tử đạo". Ta phải hiểu như thế nào? Phải chăng Hội thánh lúc nào cũng phải chịu bắt bớ, bị đoạ đầy ? Chắc không phải thế. Cần phải hiểu chữ "Tử đạo" theo nghĩa rộng hơn.

Ta đặt câu hỏi : bậc đồng trinh và đời đan tu có thể thay thế cho tử đạo không? Ngay từ xưa, người ta đã tìm những cách thế biểu hiện việc tử đạo. Những cách thế này xoay quanh những việc đời có thể diễn tả sự hy sinh chính mình, và đức tin hoàn hảo, do đấy có thể được coi như một sự sửa soạn chịu tử đạo hay có liên quan đến tử đạo. Vì thế bậc đồng trinh và đời đan tu vẫn được coi là những con đường gần nhất với tử đạo. Các trinh nữ và các đan nữ xuất hiện vào thời cấm đạo hồi xưa, dưới mắt mọi người, vẫn là những vị kế thừa các anh hùng tử đạo.

Từ đó nảy sinh ra ba mẫu tử đạo :

  • Tử đạo đỏ : là đổ máu ra chịu chết vì Chúa.
  • Tử đạo trắng : sống đời hãm mình trinh tiết.
  • Tử đạo xanh : chịu đọa đầy, để làm chứng cho đạo ở một nơi không phải là quê hương xứ sở mình.

Chính thánh nữ Têrêsa Hài đồng đã nói thẳng thắn rằng: "Tôi cảm thấy tôi có ơn gọi làm chiến binh, tông đồ, tiến sĩ và tử đạo. Tử đạo là giấc mơ trong tuổi trẻ của tôi. Và giấc mơ ấy đã trở thành mãnh liệt, khi tôi ở trong bốn bức tường của Nhà Kín. Nhưng tôi cảm thấy rằng giấc mơ đó là một sự điên rồ và vì thế tôi đã hiểu tình yêu qui tụ mọi ơn gọi của tôi. Vâng, cuối cùng tôi đã khám phá ra ơn gọi của tôi : ơn gọi của tôi là yêu mến" (Tự thuật).

Mọi người đều qúi trọng sự sống, dù chỉ là cuộc sống vắn vỏi phù du. Các tử đạo không những coi cái chết "nhẹ tựa lông hồng", mà còn lấy cái chết như ngưỡng cửa phải bước qua để tiến vào cõi sống vĩnh hằng. Các ngài cho ta cái cảm giác như là các ngài "chạm vào cõi vô hình". Các ngài đã thể hiện và chứng minh câu nói của Chúa : "Ai bám vào sự sống đời này, sẽ mất cuộc sống mai sau ..." (x. Mc 8,35). Và như thánh Phaolô nói : "Bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực luôn vui vẻ" (2Cr 6,9-10).

Các thánh Tử đạo Việt Nam của chúng ta làm cho chúng ta tự hào. Chúng ta hãy đọc lại sắc dụ cấm đạo được ban hành ngày 18-9-1855 để chúng ta thấy được một phần nào những hình khổ mà các Ngài phải chịu như thế nào: "Các quan theo đạo Giatô tại triều đình Huế hạn cho một tháng phải bỏ đạo. Các quan tỉnh thì ba tháng. Lính tráng và người dân thì sáu tháng, bằng không thì phải kể là trọng phạm.

Các người theo đạo Giatô không được thi cử, không được giữ chức tước gì. Ai đưa đường hay chứa chấp đạo trưởng thì bị xử tử. Đạo trưởng Tây phương thì chém đầu vất xác xuống sông. Các giáo đồ giúp các đạo trưởng thì phải chém đầu. Các cụ đạo bản quốc cũng phải chém đầu. Các giáo đồ theo các cụ đạo này thì phải thích chữ vào mặt và phát lưu. Phải đốt cho sạch các nhà thờ nhà xứ "

Tôi xin trích ra đây một đoạn trong bản báo cáo về việc xử Cha cố Du tại Thợ Đức ngày 30-11-1835:

"Họ cột chân tay Ngài vào một cây cột. Hai bên lính cầm kìm chờ sẵn. Sau hồi chuông báo hiệu, tên lính cầm kìm đã được nung đỏ kẹp vào ngực kéo ra hai miếng thịt nơi vú liệng xuống đất. Tên khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông - rồi đến đùi thì chúng lấy kìm kéo thịt ra rồi dùng lưỡi dao xẻo đứt từng miếng. Cha ngất đi, đầu rũ xuống và Ngài tắt hơi về chầu Chúa lúc 17giờ. Cha chết rồi, lính chặt đầu Ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi... đoạn họ cởi trói lật úp xác xuống, phân thây ra từng khúc bỏ vào thùng vôi. Tiếp theo họ lấy đầu của ngài treo giữa chợ ba ngày... rồi lấy xuống nghiền nát ra bỏ vào thùng đựng xác rồi vất tất cả xuống biển cho mất tích"

Nếu chúng ta biết bảo vệ và xây dựng Giáo hội Việt nam cho tốt thì chúng ta được các ngài khen là : "Con cái khôn ngoan, vẻ vang cha mẹ". Nếu chúng ta không cố gắng và làm phát huy ra vẻ đẹp mà cha ông chúng ta đã xây dựng bằng xương máu thì các ngài sẽ phải phàn nàn về thế hệ con cháu : "Đời cha vo tròn, đời con bóp méo".

Gương oai hùng của các Thánh Tử đạo Việt nam thôi thúc chúng ta hãy theo gương các Ngài để biết tử đạo trong đời sống hằng ngày. Nếu ngày nay chúng ta không phải trải qua "tử đạo đỏ" thì chúng ta có thể chấp nhận "tử đạo trắng hoặc xanh". Hãy thực hiện lời Chúa dạy chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay : "Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo" (Lc 9,23).

Theo Chúa là phải từ bỏ mình, chấp nhận mọi gian nan khốn khó, vâng theo thánh ý Chúa, sống trọn cuộc sống Kitô hữu để làm chứng cho Chúa. Đó là chúng ta đang trải qua cuộc tử đạo tuy âm thầm nhưng đòi hỏi nhiều hy sinh, nhiều cố gắng trường kỳ. Nếu không phải đổ máu ra mà làm chứng cho Chúa thì chúng ta có thể làm chứng theo lời nói của thánh nữ Têrêsa Hài đồng: "Ơn gọi tôi ở trong Giáo hội là yêu mến".

Các thánh Tử Đạo tại Việt Nam mời gọi mỗi người chúng ta xét lại chọn lựa của mình. Chọn lựa này không phải chỉ một lần là xong, nhưng cần đựơc lập lại mỗi ngày. Tôi đang chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Và nếu tôi chọn Chúa, tôi đã làm gì để chứng minh cho lựa chọn của mình? Chọn lựa của chúng ta hôm nay, có thể không đòi chúng ta phải đổ máu để làm chứng cho Chúa, nhưng tôi thiết nghĩ, cũng không kém phần gian khó. Đứng trước những bất công, tôi có dám bênh vực, hay tôi sợ phiền hà rồi im lặng? Trước một trận bóng đá, một bộ phim hay, một giấc ngủ ngon, một lời rủ đi chơi của bạn bè và tiếng mời gọi của Chúa nơi ngôi Thánh đường này, tôi chọn điều gì?

Chớ gì, nhờ lời cầu bầu của các thánh Tử Đạo tại Việt Nam và nhất là sức mạnh của Thánh Thể, quý ông bà anh chị em và tôi đủ sức thực hiện những chọn lựa của mình. Nhờ đó, vào ngày sau hết, tất cả chúng ta sẽ cùng được đoàn tụ với cha ông chúng ta như lời hứa của Đức Giêsu: "Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó".

Nhiều người giầu tưởng tượng bèn nghĩ rằng các thánh Tử Đạo "cao trọng" hay "có giá" hơn các thánh khác. Tại sao? Vì Giáo Hội khi phong thánh cho các ngài không đòi phải có phép lạ như nơi các thánh hiển tu chẳng hạn. Thế nên, thay vì phải sống đạo cho tốt, giữ luật Chúa suốt cả cuộc đời, thì ta chỉ nên chờ cơ hội để mau "đi đường tắt" mà làm quan. Nghĩa là chỉ phải chịu đau khổ, thí mạng sống vì Chúa trong giây phút mà đã được "làm thánh" theo kiểu người trộm lành trên Núi Sọ.

Thực ra việc bước ra pháp trường để chết vì Đạo là cả một tiến trình triền miên trải qua nhiều giai đoạn chông gai: từ hồi tâm, sửa đổi cuộc sống tới tuyên xưng Đức Tin một cách can truờng và nhẫn nại chịu đựng mọi cực hình dã man nhất mà con người có thể nghĩ ra. Các bậc tiền nhân của chúng ta đa số có đời sống bình thường rất thánh thiện đáng đem ra làm gương trong xã hội và cho cả Giáo Hội. Tuy nhiên cũng có một vài vị mang tật xấu như thánh GẪM có vợ nhỏ, thánh HUY ham mê cờ bạc, nhưng các ngài đã hồi tâm ăn năn tội lỗi, sửa mình sống đời sống Phúc Âm khi chấp nhận cái chết vì Chúa Kitô. Dĩ nhiên các ngài phải được sự hỗ trợ đắc lực của Chúa Thánh Thần thì mới bỏ được các nết hư tật xấu và không sợ chết theo lẽ thường tình.

Chúng ta đừng quên rằng từ lúc các ngài bị bắt cho tới ngày diễm phúc được tử đạo là cả một thời gian dài, có khi cả hàng năm, chứ không chỉ chớp nhoáng có vài ngày hay vài tiếng đồng hồ. Trong thời gian này các ngài phải đối diện với nhiều lựa chọn: thí dụ có nên "giả vờ" bước qua Thánh Giá hay không, miễn là trong lòng vẫn giữ đạo không? Có nên chết vì Chúa mà lỗi luật bác ái bỏ vợ con, cha mẹ bơ vơ là những người đang cần sự giúp đỡ của mình không? Có nên lấy tiền bạc mà vua quan cho đem về nuôi dưỡng mẹ già hay các nhà truyền giáo còn sống ẩn nấp chưa bị bắt bớ không?

Những câu hỏi trên chúng ta có thể áp dụng vào cuộc sống hiện tại của mỗi người ngày nay, trong vị trí, môi trường, nghề nghiệp… của mình và chúng ta sẽ thấy ý nghĩa sâu sa của câu ngạn ngữ "Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo". Các thánh Tử Đạo đã truyền giáo bằng gương sáng, bằng đời sống can trường và công chính theo TIN MỪNG. Còn chúng ta thì sao???

(Bị chú: bài thuyết trình này có xử dụng một số tài liệu tìm được trên Internet)
Windheim, Germany, ngày 08. tháng 4, 2011

Lm. Dr. Francis Hồ Ngọc Thỉnh